Trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một phối cảnh đẹp chỉ trong vài chục giây. Nó có thể dựng nên những tòa nhà phủ đầy cây leo, những quảng trường rợp bóng mát, những đại lộ với hàng cây thẳng tắp, những khu đô thị sinh thái lung linh dưới ánh hoàng hôn. Chỉ cần vài dòng lệnh, mọi thứ hiện ra đẹp đến mức người ta có thể tin rằng tương lai đã ở rất gần. Nhưng AI không tạo ra cây xanh.
Nó không thể làm một cây sao đen mất ba mươi năm để đủ lớn che mát một đoạn phố. Nó không thể thay thế một gốc dầu cổ thụ đã âm thầm hấp thụ hàng chục tấn carbon trong suốt vòng đời của mình. Nó cũng không thể tạo ra lớp đất màu cần hàng trăm năm để hình thành, càng không thể tạo ra một hệ sinh thái mà trong đó chim, côn trùng, vi sinh vật và con người cùng tồn tại. AI có thể tạo ra hình ảnh của thiên nhiên. Nhưng thiên nhiên thật sự thì luôn cần thời gian. Và quy hoạch cũng vậy.
Có lẽ vì thế mà mỗi sáng trên đường đi làm, khi đi ngang qua Trung tâm Hội nghị Robert Schuman ở Metz, nơi mình gắn bó đã năm năm, mình luôn vô thức quan sát cùng một khung cảnh nhộn nhịp của những người dậy sớm đi làm như mình. Không khí vốn dĩ khá dễ chịu buổi sáng sớm. Nhưng chỉ cần bước ngang khu vực mặt đứng kính của tòa nhà, nhiệt độ bức xạ phản chiếu từ lớp tường kính xuống mặt vỉa hè lập tức thay đổi rõ rệt. Cảm giác trên da đã khác hẳn giữa phần vỉa hè không bị phản chiếu và phần vệt sáng đang dần nung nóng mặt bê tông vỉa hè kia. Sự chênh lệch ấy lớn đến mức khó tin khi bình minh chỉ vừa bắt đầu.
Nếu một thành phố ở vùng ôn đới như miền Đông nước Pháp đã bắt đầu cảm nhận rõ tác động của hiện tượng đảo nhiệt đô thị trong những đợt nắng nóng lịch sử mà châu Âu đang trải qua, thì những đô thị nhiệt đới như Thành phố Hồ Chí Minh sẽ còn phải đối diện với điều gì trong hai mươi hay ba mươi năm nữa.
Mùa hè năm nay, gần như toàn bộ châu Âu tiếp tục trải qua những đợt nắng nóng cực đoan. Nhiều khu vực miền Nam nước Pháp ghi nhận cháy rừng trên diện rộng. Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp và Bồ Đào Nha liên tục phát đi cảnh báo nhiệt độ nguy hiểm. Các nghiên cứu y tế công cộng đều chỉ ra rằng số ca tử vong do sốc nhiệt tăng mạnh trong những giai đoạn này, đặc biệt ở người già và trẻ nhỏ. Điều đáng nói là phần lớn các thành phố châu Âu vốn đã sở hữu tỷ lệ cây xanh cao hơn rất nhiều so với các đô thị Đông Nam Á. Điều đó có nghĩa rằng ngay cả những thành phố đã đầu tư hàng thế kỷ vào không gian xanh cũng đang phải vật lộn trước biến đổi khí hậu. Vậy thì những đô thị vốn đã thiếu cây xanh từ đầu sẽ ra sao?
Có một khái niệm mà người làm quy hoạch thường nhắc đến là “green infrastructure”, hay hạ tầng xanh. Khái niệm này bắt đầu được xem như một phần của hạ tầng đô thị từ cuối thế kỷ thứ 20 khi người ta nhận ra rằng cây xanh không phải là phần trang trí của thành phố. Chúng là hạ tầng, giống như đường sá, điện hay cấp nước. Một thành phố có thể thiếu thêm một bãi đỗ xe trong vài năm. Nhưng nếu thiếu cây xanh trong vài chục năm, cái giá phải trả sẽ là sức khỏe cộng đồng, là nhiệt độ bề mặt tăng lên từng năm, là chất lượng không khí giảm xuống và là khả năng chống chịu của đô thị trước thiên tai ngày càng yếu đi.
Ian McHarg đã viết trong cuốn Design with Nature (Thiết kế cùng Tự nhiên) rằng mọi quyết định quy hoạch đều phải bắt đầu bằng việc đọc hiểu tự nhiên trước khi nghĩ đến xây dựng. Con người không chinh phục thiên nhiên bằng bê tông. Con người chỉ có thể tồn tại lâu dài khi học cách làm việc cùng thiên nhiên. Hơn nửa thế kỷ sau, tư tưởng ấy vẫn chưa bao giờ cũ. Charles Montgomery, trong Happy City: Transforming Our Lives Through Urban Design (thành phố hạnh phúc), cũng nhắc đến một điều rất thú vị. Ông cho rằng chất lượng sống của đô thị không được quyết định bởi số lượng các tòa nhà biểu tượng, mà bởi những trải nghiệm rất bình thường diễn ra mỗi ngày. Người dân có thể đi bộ dưới bóng cây hay không. Trẻ em có nơi chạy nhảy hay không. Người già có một băng ghế dưới tán cây để nghỉ chân hay không. Một thành phố đáng sống không được tạo nên từ những khoảnh khắc đặc biệt. Nó được tạo nên từ hàng triệu khoảnh khắc bình thường diễn ra trong sự dễ chịu của môi trường sống.
Theo các chương trình phát triển công viên công cộng được Thành phố Hồ Chí Minh công bố gần đây, diện tích công viên công cộng hiện chỉ đạt khoảng 0,7 m² trên một người. Thành phố đặt mục tiêu nâng lên 1 m² trên một người trong những năm tới. Nghe qua có vẻ là một bước tiến. Nhưng nếu đặt cạnh ngưỡng 8 đến 10 m² cây xanh trên một người mà nhiều nghiên cứu quốc tế và các tài liệu quy hoạch xem là mức tối thiểu cho một đô thị bền vững, khoảng cách ấy bỗng trở nên rất lớn.
Đôi khi những con số rất khó hình dung. Nhưng nếu đổi sang một cách đo khác thì câu chuyện trở nên trực quan hơn rất nhiều. Công viên Tao Đàn rộng khoảng 10 hectares. Thảo Cầm Viên Sài Gòn rộng khoảng 17 hertares.
Với quy mô dân số khoảng mười một triệu người, nếu chỉ muốn đạt mục tiêu 1 m² cây xanh trên một người, Thành phố Hồ Chí Minh cần khoảng 1100 hectares công viên công cộng. Con số ấy tương đương khoảng 110 công viên cỡ Tao Đàn, hoặc khoảng 65 Thảo Cầm Viên.
Nếu muốn đạt mức tối thiểu của một đô thị bền vững là 8 m² trên một người, thành phố cần khoảng 8800 hertares công viên, tương đương gần 880 công viên Tao Đàn, hoặc hơn 500 Thảo Cầm Viên. Nếu lấy mốc 10 m² trên một người, con số còn lớn hơn nữa. TĐọc đến đây, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ đây là điều không tưởng.
Nhưng thực ra điều đáng lo không nằm ở số lượng. Điều đáng lo nằm ở cách chúng ta hiểu về cây xanh. Một Thảo Cầm Viên rộng lớn nằm giữa trung tâm không thể thay thế hàng chục công viên nhỏ nằm xen giữa các khu dân cư. Rất nhiều nghiên cứu về hạ tầng xanh đã chỉ ra rằng hiệu quả giảm nhiệt và cải thiện sức khỏe cộng đồng phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng tiếp cận của người dân thay vì tổng diện tích cây xanh. Nếu một đứa trẻ phải đi mười cây số mới tới được công viên, thì công viên ấy gần như không tồn tại trong cuộc sống của em.
Đó là lý do các thành phố như Copenhagen, Amsterdam, Singapore hay Melbourne không chỉ xây những công viên khổng lồ. Họ tạo ra cả một mạng lưới liên tục gồm công viên cấp vùng, công viên khu ở, hành lang xanh ven sông, quảng trường có bóng cây, vườn cộng đồng, đường phố với tán cây liên tục và những khoảng đệm sinh thái kết nối tất cả lại với nhau. Trong quy hoạch hiện đại, cây xanh không còn là những chấm xanh rời rạc trên bản đồ. Chúng được thiết kế như một hệ tuần hoàn của đô thị.
Có lẽ điều đáng tiếc nhất là rất nhiều cuộc tranh luận về quy hoạch hiện nay vẫn xoay quanh câu hỏi nên xây hay không nên xây. Nhưng rất ít người đặt câu hỏi rằng sau khi xây xong, thành phố sẽ mát hơn hay nóng hơn. Người dân sẽ đi bộ nhiều hơn hay ít hơn. Trẻ em sẽ có thêm nơi vui chơi hay chỉ có thêm những bề mặt bê tông hấp thụ nhiệt.
Kiến trúc luôn được nhìn thấy rõ nhất vì nó có hình khối. Nhưng chính quy hoạch mới quyết định chất lượng của kiến trúc. Một công trình xanh không thể cứu nổi một thành phố thiếu hạ tầng xanh. Một mặt đứng phủ cây cũng không thể thay thế được một khu rừng nhỏ đã biến mất. Cũng giống như một chiếc điều hòa không thể thay thế bóng mát của một hàng cây cổ thụ.
AI có thể học từ hàng tỷ hình ảnh. Nó có thể tạo ra những bản vẽ đẹp hơn rất nhiều người. Nhưng nó không biết cảm giác của một đứa trẻ chạy dưới bóng cây sau giờ tan học. Nó không biết mùi đất sau cơn mưa đầu mùa. Nó cũng không biết rằng một hàng dầu cổ thụ bị đốn đi hôm nay sẽ cần nhiều thế hệ sau mới có thể lấy lại.
Có những thứ công nghệ giúp con người làm nhanh hơn. Nhưng cũng có những thứ, dù công nghệ phát triển đến đâu, vẫn chỉ có thời gian mới tạo ra được.
Một khu rừng là như vậy. Một công viên cũng là như vậy. Và một thành phố đáng sống, suy cho cùng, cũng là như vậy.
Có lẽ vì thế, trước khi hỏi AI có thể thiết kế được gì cho tương lai, chúng ta nên tự hỏi mình muốn để lại bao nhiêu bóng mát cho những người sẽ sống ở tương lai ấy. Vì đến cuối cùng, thứ cứu một thành phố trong những ngày nóng nhất sẽ không phải là một bản phối cảnh đẹp, mà là bóng cây mà nhiều thế hệ trước đã đủ kiên nhẫn để trồng.
Credit image : Tu Nguyen
Leave a comment