Chuyện quái gì đang diễn ra với kiến trúc và đô thị Việt Nam?

27–40 minutes

read

Bản quyền hình ảnh minh họa : Phan Quoc Lam

Luôn có một phần trong nghiên cứu đọc, viết, suy tư về kiến trúc dành cho Việt Nam trong tâm trí của mình. Tuy mình không được sống thường xuyên trong bầu không khí đó nhưng mỗi lần được quay về, tận hưởng, ngắm nhìn, hít thở, lang thang nghiền ngẫm mình luôn thấy có nhiều thứ đáng để viết, để nói, để ghi nhớ. Năm 2026, một lần nữa mình được tận mắt xác thực, được phân tích kỹ hơn những tin tức mình đọc được từ đầu năm để rồi những suy nghĩ ấy ngày lớn dần lên và cần được trích xuất dưới một hình thức nào đó. Nếu bạn đọc được những dòng dưới đây, thì ắt hẳn, bạn cũng quan tâm, yêu thương mọi miền của đất nước này như mình. Vẫn như mọi khi, bài viết mình dùng “tui” thay vì “tôi” nghe cho đỡ sợ, hoặc ít nhất là mình thấy đỡ sợ hihi

Dạo gần đây, mỗi lần đọc tin về một dự án kiến trúc hay quy hoạch đô thị ở Việt Nam, tui thường có một cảm giác rất khó diễn tả. Một chút háo hức khi nhìn thấy những dự định lớn lao, một chút tò mò về cách những ý tưởng ấy sẽ được hiện thực hóa, rồi cuối cùng là hàng loạt câu hỏi cứ nối tiếp nhau xuất hiện. Những nhà hát, những quảng trường, những khu đô thị mới, những đại lộ ven sông, những “đô thị lấn biển” những công trình được kỳ vọng sẽ trở thành biểu tượng của một thành phố đang vươn-mình. Tui không phủ nhận nhu cầu phát triển, càng không cho rằng một đô thị, một đât nước phải giữ nguyên diện mạo của mình để được xem là trân trọng lịch sử. Nhưng càng nhìn những hình ảnh tương lai đẹp đẽ ấy, tui lại càng muốn biết nhiều hơn về những thứ không được thể hiện trong phối cảnh. Chẳng hạn như nước mưa sẽ đi đâu sau khi hàng chục héc ta đất tự nhiên được thay bằng bề mặt xây dựng? Những hàng cây hiện hữu có được giữ lại không? Một khu dân cư mới sẽ khiến mạng lưới giao thông và hạ tầng kỹ thuật xung quanh thay đổi như thế nào? Và quan trọng hơn, những người đang sống ở đó hôm nay sẽ được hưởng lợi gì từ sự thay đổi ấy trong ba mươi hay năm mươi năm tới?

Tui nghĩ sự phát triển của một thành phố cũng giống như quá trình trưởng thành của một con người. Không ai có thể mãi là một đứa trẻ, cũng chẳng ai có thể giữ nguyên hình hài khi thời gian trôi qua. Nhưng trưởng thành không đồng nghĩa với việc cứ phải cao hơn, lớn hơn, nhanh hơn hay sở hữu nhiều thứ hơn. Một cơ thể khỏe mạnh cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, cần hệ tuần hoàn hoạt động ổn định, cần khả năng tự điều chỉnh trước những biến đổi từ môi trường. Thành phố cũng vậy. Những con đường là hệ thống lưu thông, sông ngòi và kênh rạch là một phần của hệ thủy văn, công viên và những khoảng đất tự nhiên góp phần điều hòa vi khí hậu, còn những công trình kiến trúc là nơi diễn ra các hoạt động sống. Khi một bộ phận phát triển quá nhanh mà những bộ phận khác không kịp thích ứng, sự mất cân bằng sẽ dần xuất hiện. Và điều khiến tui trăn trở nhất là nhiều dấu hiệu của sự mất cân bằng ấy đang hiện diện ngay trong cuộc sống thường ngày của người dân Việt Nam.

Một thành phố có thể đẹp hơn nhưng liệu có đang khỏe mạnh hơn?

Hà Nội là một ví dụ khiến tui suy nghĩ rất nhiều. Một thành phố có bề dày lịch sử ngàn năm văn hiến, có những mặt hồ đẹp, những con phố rợp bóng cây, những lớp kiến trúc đan xen qua nhiều thời kỳ, nhưng đồng thời cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Có những ngày, bầu trời Hà Nội như bị phủ bởi một lớp màn xám, không phải thứ sương mù lãng mạn thường thấy trong những bức ảnh mùa đông mà là sự hiện diện của bụi mịn và các chất ô nhiễm trong khí quyển. Điều đáng lo là bụi mịn PM2.5 có kích thước đủ nhỏ để xâm nhập sâu vào hệ hô hấp và liên quan đến nhiều nguy cơ sức khỏe lâu dài. Chúng ta có thể quen với hình ảnh một thành phố đông đúc, có thể chấp nhận tiếng còi xe như một phần của đời sống đô thị, nhưng liệu có nên xem việc phải kiểm tra chất lượng không khí trước khi ra đường là một trạng thái bình thường của cuộc sống?

Tại sao Hà Nội lại trở thành một đô thị thường xuyên chịu áp lực bụi mịn lớn đến vậy? Câu trả lời không đơn giản nằm ở việc có quá nhiều xe máy, cũng không thể quy hết cho các công trường xây dựng. Những nghiên cứu về thành phần hóa học và nguồn phát thải PM2.5 tại Hà Nội cho thấy ô nhiễm là kết quả của nhiều nguồn tác động đồng thời, từ giao thông, hoạt động công nghiệp, đốt sinh khối, bụi đất cho đến các hạt thứ cấp hình thành qua phản ứng hóa học trong khí quyển. Một phần ô nhiễm còn được vận chuyển từ những khu vực bên ngoài thành phố. Trong những điều kiện khí tượng ít thuận lợi cho sự khuếch tán, các chất ô nhiễm có thể tích tụ và khiến chất lượng không khí trở nên đặc biệt xấu. Điều đó có nghĩa rằng giải quyết ô nhiễm Hà Nội không thể chỉ là trồng thêm một vài hàng cây hay phun tưới nước trên những tuyến đường nhiều bụi. Cần một chiến lược quản lý phát thải ở quy mô vùng, phối hợp giữa giao thông, công nghiệp, năng lượng, xây dựng và sử dụng đất.

Và đây cũng là lúc câu chuyện quy hoạch trở nên quan trọng. Một thành phố được tổ chức theo cách khiến người dân phải phụ thuộc quá nhiều vào phương tiện cá nhân sẽ tạo ra những áp lực giao thông và phát thải khác với một đô thị có mạng lưới giao thông công cộng hiệu quả, có khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu trong khoảng cách đi bộ. Một khu đô thị mới được xây dựng cách xa nơi làm việc, trường học và các tiện ích hằng ngày có thể tạo ra hàng nghìn hành trình di chuyển bổ sung. Một công trình có thể đạt các tiêu chí tiết kiệm năng lượng trong phạm vi khu đất của mình, nhưng nếu người sử dụng phải lái xe hàng chục cây số mỗi ngày để đến đó, bài toán bền vững cần được đánh giá ở phạm vi lớn hơn rất nhiều. Bởi vậy, chất lượng môi trường không chỉ là câu chuyện của các cơ quan kiểm soát ô nhiễm. Nó còn phản ánh cách chúng ta phân bố chức năng đô thị, tổ chức mạng lưới giao thông và lựa chọn nơi đặt những công trình mới.

Khi thành phố bắt đầu phát sốt

Có một điều mà những người sống ở đô thị hiện đại có lẽ đang cảm nhận rõ hơn qua từng mùa hè. Đó là cảm giác nóng không còn chỉ đến từ mặt trời. Nó đến từ mặt đường, từ bức tường, từ những quảng trường lát đá, từ các bề mặt kính phản xạ bức xạ, từ những khoảng sân thiếu bóng mát và cả những hệ thống điều hòa đang liên tục phát thải nhiệt ra môi trường bên ngoài. Trong chuyên môn, hiện tượng đảo nhiệt đô thị được nghiên cứu từ lâu, nhưng những biểu hiện của nó lại gần gũi đến mức bất cứ ai cũng có thể cảm nhận. Chỉ cần bước từ một con phố đầy bê tông sang một công viên có tán cây lớn, cơ thể lập tức nhận ra sự khác biệt, dù nhiệt độ không khí đo tại hai nơi có thể không chênh lệch nhiều như cảm giác nóng mà con người thực sự phải chịu.

Tui thường nghĩ đến chuyện này mỗi sáng trên đường đi làm ở Metz. Khi đi ngang qua Trung tâm Hội nghị Robert Schuman vào khoảng bảy giờ sáng, có những ngày tui cảm nhận rất rõ sự thay đổi của bức xạ nhiệt tại khu vực mặt đứng kính và vỉa hè xung quanh, ngay cả khi mặt trời chỉ vừa lên. Hoặc những siêu đô thị như Paris, Lyon, hai thành phố tui hay lui tới để gặp gỡ bạn bè đã phải chịu những đợt bức nhiệt nóng gấp bội phần không chỉ vì những đợt nắng nóng canicule ảnh hưởng trên toàn nước Pháp mà còn bởi vi khí hậu trong lòng đô thị. Đó là một quan sát cá nhân, chưa phải kết quả đo đạc nhiệt độ bề mặt hay nhiệt độ bức xạ trung bình, nhưng nó khiến tui chú ý nhiều hơn đến mối quan hệ giữa hình thức kiến trúc, vật liệu và vi khí hậu. Một mặt đứng có thể rất đẹp trong phối cảnh, nhưng cách nó tiếp nhận và phản xạ bức xạ mặt trời sẽ ảnh hưởng đến không gian xung quanh. Một quảng trường có thể trông rộng rãi, hiện đại và sạch sẽ, nhưng nếu không có đủ bóng mát, người dân sẽ sử dụng nó như thế nào vào một buổi trưa mùa hè?

Các nghiên cứu công bố năm 2026 về Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục ghi nhận xu hướng gia tăng mức độ phơi nhiễm nhiệt cực đoan và sự mở rộng của các vùng đảo nhiệt bề mặt trong quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ biến đổi khí hậu toàn cầu với tác động của hình thái đô thị tại từng địa điểm. Biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của các đợt nóng, còn vật liệu, mật độ xây dựng, độ che phủ thực vật, thông gió và khả năng giữ nước của bề mặt quyết định phần nào mức độ nóng mà người dân phải chịu trong từng khu phố. Không phải mọi thành phố đều nóng lên theo cùng một tốc độ và cũng không thể khẳng định nhiệt độ sẽ tăng đều qua từng năm. Nhưng xu hướng dài hạn đủ đáng lo để chúng ta không thể tiếp tục xem giải pháp che nắng, làm mát thụ động và tổ chức hạ tầng xanh như những lựa chọn phụ thuộc vào ngân sách còn dư sau khi hoàn thành công trình.

Trong cuốn Design with Nature (Thiết kế cùng thiên nhiên), Ian McHarg đã đặt ra một tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng đến quy hoạch sinh thái: trước khi quyết định xây dựng ở đâu và xây dựng như thế nào, người thiết kế cần hiểu những điều kiện tự nhiên đang định hình nơi chốn ấy. Địa hình, đất, nước, thảm thực vật và hệ sinh thái không phải những lớp thông tin chỉ được đưa vào hồ sơ để hoàn thành thủ tục. Chúng là cơ sở để quyết định khu vực nào phù hợp cho xây dựng, khu vực nào cần được bảo vệ và khu vực nào nên giữ chức năng điều hòa môi trường. Hơn nửa thế kỷ sau, khi các công cụ mô phỏng và trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra những mô hình đô thị vô cùng phức tạp, tư tưởng ấy vẫn rất đáng để suy ngẫm. Bởi một mô hình có thể giúp dự báo nhiệt độ, nhưng không thể tự tạo ra một hàng cây trưởng thành. Một bản quy hoạch có thể vẽ thêm rất nhiều khoảng xanh, nhưng khoảng xanh ấy chỉ thực sự có giá trị khi được dành đất, được trồng đúng cách, được chăm sóc và được bảo vệ trong suốt vòng đời của đô thị.

Tui vẫn luôn nghĩ rằng cây xanh và mặt nước không phải những món đồ trang trí để thành phố trông dễ chịu hơn. Chúng là một phần của hệ thống hạ tầng sống. Một công viên không chỉ cung cấp nơi vui chơi mà còn góp phần giảm nhiệt, hỗ trợ thấm nước, tạo sinh cảnh và cải thiện sức khỏe cộng đồng. Một hành lang xanh ven sông không chỉ là tuyến dạo bộ đẹp mà còn có thể đóng vai trò trong việc duy trì kết nối sinh thái và quản lý nước, tùy theo điều kiện địa hình và thiết kế. Nhưng điều quan trọng không chỉ nằm ở tổng diện tích cây xanh. Một công viên lớn ở trung tâm không thể thay thế hoàn toàn mạng lưới những khoảng xanh nhỏ nằm gần khu dân cư. Nếu người dân phải di chuyển quá xa mới đến được nơi có bóng mát, thì lợi ích của công viên ấy đối với đời sống hằng ngày cũng bị giới hạn. Thành phố cần một hệ thống xanh liên tục, chứ không phải những mảng màu xanh rời rạc để làm đẹp bản đồ quy hoạch.

Sài Gòn đang lún dần, còn nước thì không biết phải đi đâu

Nếu Hà Nội khiến tui suy nghĩ về bầu không khí mà con người đang hít thở, thì Sài Gòn lại khiến tui trăn trở về mặt đất dưới chân mình. Là một người sinh ra và lớn lên ở thành phố này, tui có rất nhiều ký ức gắn với những cơn mưa nhiệt đới. Mưa Sài Gòn có thể đến rất nhanh, xối xả rồi bất chợt tạnh, để lại mùi đất ẩm và những vũng nước phản chiếu ánh đèn đường. Nhưng khi những con đường ngập nước không còn chỉ là chuyện bất tiện sau một cơn mưa lớn, khi triều cường có thể khiến nước dâng vào những khu dân cư ngay cả trong những ngày không mưa, câu chuyện ấy đã vượt ra ngoài cảm xúc hoài niệm. Nó trở thành một vấn đề về khả năng thích ứng của toàn bộ hệ thống đô thị.

Sài Gòn nằm trên một vùng địa hình thấp, có mạng lưới sông ngòi và kênh rạch phức tạp, chịu tác động đồng thời của mưa, thủy triều, dòng chảy và biến đổi mực nước. Đô thị hóa làm gia tăng diện tích bề mặt khó thấm, thay đổi địa hình tự nhiên và trong nhiều trường hợp làm suy giảm những không gian từng có khả năng lưu giữ nước. Bên dưới mặt đất, tình trạng sụt lún lại tạo thêm một áp lực khác. Các nghiên cứu địa chất và quan trắc vệ tinh cho thấy nhiều khu vực của Thành phố Hồ Chí Minh đang chịu tác động của quá trình lún đất với mức độ không đồng đều. Điều kiện nền đất yếu, lịch sử khai thác nước ngầm, tải trọng xây dựng và các hoạt động đô thị đều là những yếu tố cần được xem xét. Nghiên cứu về quản lý nước ngầm công bố cuối năm 2025 cũng ghi nhận những kết quả tích cực từ việc giảm khai thác và mở rộng mạng lưới cấp nước, cho thấy tình hình không phải chỉ có một chiều xấu đi. Nhưng ngay cả khi một số áp lực được kiểm soát tốt hơn, phần đất đã lún không tự động trở lại cao độ ban đầu.

Điều khiến tui lo lắng là nước không hề quan tâm đến ranh giới của một dự án bất động sản. Một khu đô thị có thể nâng nền để tránh ngập, nhưng điều đó không tự chứng minh rằng toàn bộ khu vực xung quanh sẽ an toàn hơn. Một tuyến đường có thể được nâng cao, nhưng nếu các khu dân cư hai bên thấp hơn và hệ thống thoát nước không được điều chỉnh tương ứng. Một con kênh có thể được đổ kè bê tông thật đẹp, nhưng khả năng thoát nước và quan hệ thủy lực của nó với các nhánh khác mới là điều quyết định hiệu quả vận hành. Những câu hỏi này không có nghĩa rằng mọi dự án nâng nền, xây kè hay phát triển ven sông đều gây hại. Chúng nhắc rằng một giải pháp chỉ thực sự tốt khi hiệu quả của nó được kiểm chứng trong toàn bộ hệ thống liên quan, thay vì chỉ trong phạm vi hàng rào công trình.

Trong The Death and Life of Great American Cities (Cái chết và sự sống của những đô thị lớn ở Mỹ), Jane Jacobs đã phê bình cách tiếp cận thành phố như một đối tượng có thể được chia nhỏ thành những bộ phận độc lập và sắp xếp lại bằng các công thức giản đơn. Bà nhấn mạnh tính phức hợp của đời sống đô thị, nơi những quan hệ giữa con người, hoạt động và không gian tạo nên một trật tự khó có thể hiểu nếu chỉ nhìn từng thành phần riêng lẻ. Dù J.Jacobs không viết một lý thuyết chuyên biệt về thủy văn đô thị, cách tư duy về thành phố như một hệ thống phức hợp vẫn rất hữu ích khi nhìn vào Sài Gòn hôm nay. Chúng ta không thể giải quyết ngập lụt chỉ bằng một con đường, một cống thoát nước hay một công trình đập ngăn triều. Cần hiểu nước từ đâu đến, đi qua những khu vực nào, được lưu giữ ở đâu, thoát đi bằng cách nào và điều gì xảy ra khi mưa lớn trùng với triều cao.

Những năm gần đây, các đô thị trên thế giới đã phát triển nhiều cách tiếp cận khác nhau để thích ứng với nước. Hà Lan nghiên cứu và thực hiện các giải pháp dành thêm không gian cho sông, thay vì chỉ liên tục nâng cao hệ thống đê. Copenhagen phát triển các không gian công cộng có thể tham gia quản lý nước mưa cực đoan. Singapore kết hợp quản lý lưu vực với cảnh quan, công viên và hạ tầng nước trong nhiều dự án cải tạo đô thị. Không mô hình nào có thể sao chép nguyên xi vào Việt Nam, bởi mỗi nơi có điều kiện địa chất, khí hậu, thể chế và nguồn lực khác nhau. Nhưng có một tư tưởng đáng học hỏi: thay vì chỉ tìm cách đẩy nước ra khỏi thành phố càng nhanh càng tốt, cần hiểu khi nào nên dẫn nước đi, khi nào cần giữ nước lại và khu vực nào có thể chấp nhận ngập có kiểm soát để bảo vệ những nơi dễ tổn thương hơn.

Đà Lạt cũng ngập, vậy chúng ta còn đang hiểu sai điều gì về địa hình?

Đà Lạt là một câu chuyện khác, nhưng lại có nhiều điểm liên quan đến cách chúng ta đối xử với tự nhiên. Một thành phố cao nguyên vốn được nhớ đến bằng những triền đồi, những rừng thông, những thung lũng và khí hậu mát mẻ, được mệnh danh là thành phố mơ. Trong ký ức của nhiều người, Đà Lạt là nơi để trốn khỏi cái nóng của đô thị đồng bằng. Nhưng độ cao không phải một tấm vé bảo đảm rằng thành phố sẽ miễn nhiễm với ngập lụt. Khi mưa lớn đổ xuống các sườn dốc, nước có thể tập trung rất nhanh về những vùng trũng. Nếu quá trình đô thị hóa, xây dựng nhà kính lấp đầy triền núi cao làm thay đổi khả năng thấm nước của đất, thu hẹp các không gian thoát nước tự nhiên hoặc gia tăng xây dựng tại những khu vực nhạy cảm, nguy cơ ngập cục bộ và xói lở có thể trở nên nghiêm trọng hơn.

Điều đáng suy nghĩ là trong quy hoạch, địa hình không phải một trở ngại cần được san phẳng để tạo ra những khu đất dễ xây dựng. Địa hình chính là một phần của bản sắc và cũng là cơ sở vận hành tự nhiên của nơi chốn. Một sườn đồi có thể không thuận tiện cho việc xây dựng những khối nhà lớn, nhưng nó góp phần tạo nên hướng thoát nước, thảm thực vật và cấu trúc cảnh quan. Một thung lũng có thể hấp dẫn về mặt bất động sản, nhưng cũng có thể là nơi tập trung dòng chảy khi mưa lớn. Một khu vực ven suối có thể rất đẹp để phát triển du lịch, nhưng vẻ đẹp ấy không thể thay thế yêu cầu đánh giá hành lang thoát lũ và an toàn địa chất. Nếu chỉ nhìn địa hình qua khả năng tạo ra những lô đất thương mại, chúng ta có nguy cơ bỏ qua chính những chức năng tự nhiên đã giúp thành phố tồn tại trước khi những công trình đầu tiên được xây lên.

Tui nghĩ đây là một trong những điểm mù lớn của tư duy phát triển đô thị. Chúng ta thường dễ nhìn thấy giá trị kinh tế của một khu đất khi nó có thể được xây dựng, nhưng lại khó định lượng đầy đủ giá trị của nó khi được giữ nguyên trạng thái tự nhiên. Một cánh rừng có thể được xem là quỹ đất chưa khai thác, một vùng trũng có thể bị coi là phần đất cần san lấp, một bãi sông có thể được nhìn như một khoảng trống đang chờ được quy hoạch. Nhưng đối với hệ sinh thái, những không gian ấy không hề trống rỗng. Chúng đang thực hiện những chức năng mà con người đôi khi chỉ nhận ra khi đã đánh mất.

Khi kiến trúc trở thành hình ảnh, còn quy hoạch trở thành phép cộng của những dự án

Một trong những điều khiến tui băn khoăn nhất khi theo dõi các cuộc tranh luận kiến trúc ở Việt Nam không phải là việc một công trình có đẹp hay không. Thẩm mỹ luôn có những lớp cảm nhận khác nhau, và một thành phố cần đủ cởi mở để đón nhận những ngôn ngữ kiến trúc mới. Điều tui quan tâm hơn là tại sao chúng ta thường dành quá nhiều thời gian tranh luận về hình thức của một công trình, nhưng lại ít khi được tiếp cận những phân tích về tác động của nó đối với bối cảnh xung quanh. Một nhà hát có thể trở thành biểu tượng văn hóa, nhưng người dân có thể đến đó thuận tiện bằng phương tiện công cộng hay không? Một quảng trường có thể rất ấn tượng từ trên cao, nhưng có đủ bóng mát để người dân sử dụng trong ngày thường hay không? Một khu đô thị ven sông có thể sở hữu cảnh quan đẹp, nhưng có duy trì được hành lang sinh thái, khả năng tiếp cận công cộng và an toàn thủy văn của toàn khu vực hay không?

Kiến trúc chưa bao giờ đứng một mình, ngay cả khi công trình ấy được thiết kế bởi một kiến trúc sư nổi tiếng thế giới. Một công trình không chỉ có quan hệ với khu đất của nó mà còn tác động đến giao thông, cảnh quan, vi khí hậu, hạ tầng kỹ thuật, hoạt động kinh tế và những cộng đồng xung quanh. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng kiến trúc không thể chỉ dựa vào bản vẽ mặt bằng, phối cảnh hay các chỉ tiêu xây dựng riêng lẻ. Nó cần được đặt trong một hệ thống nhiều quy mô, từ chi tiết cấu tạo của công trình đến cấu trúc đô thị và điều kiện tự nhiên của cả vùng. Đó cũng là lý do vì sao tui luôn cho rằng kiến trúc và quy hoạch cần được nghiên cứu cùng nhau, thay vì bị chia thành những phạm vi trách nhiệm quá tách biệt.

Có một nguy cơ khi quá trình phát triển đô thị được nhìn chủ yếu qua những dự án riêng lẻ. Mỗi dự án đều có thể đưa ra những lợi ích hợp lý trong phạm vi của mình. Một tuyến đường giúp cải thiện kết nối, một khu dân cư cung cấp thêm nhà ở, một công trình thương mại tạo ra hoạt động kinh tế, một quảng trường bổ sung không gian công cộng. Nhưng khi đặt tất cả cạnh nhau, liệu tổng thể có vận hành tốt hơn không? Nếu những khu dân cư mới làm gia tăng nhu cầu giao thông nhanh hơn khả năng phục vụ của mạng lưới hiện hữu, nếu những khoảng đất tự nhiên liên tục bị thu hẹp, nếu mỗi dự án đều cố gắng tối ưu hiệu quả sử dụng đất mà không tính đầy đủ những tác động cộng dồn, thành phố có thể đạt được nhiều thành tựu riêng lẻ nhưng vẫn gặp khó khăn ở cấp độ toàn hệ thống.

Đó cũng là lúc cần nhìn lại ý nghĩa của hai chữ bền vững. Một công trình được gắn nhãn xanh không mặc nhiên tạo nên một đô thị bền vững. Một khu dân cư có nhiều cây cảnh không nhất thiết thay thế được một hệ sinh thái tự nhiên. Một dự án sử dụng vật liệu hiện đại cũng chưa chắc có tác động môi trường thấp nếu việc xây dựng đòi hỏi phá bỏ một công trình còn khả năng sử dụng, hoặc nếu chi phí vận hành và bảo trì trong nhiều thập kỷ sau quá lớn. Tính bền vững phải được đánh giá theo vòng đời, từ nguồn tài nguyên đầu vào, quá trình xây dựng, vận hành, khả năng thích ứng đến việc cải tạo hoặc tháo dỡ trong tương lai. Và ở quy mô đô thị, nó còn bao gồm khả năng tiếp cận công bằng của người dân đối với nhà ở, giao thông, không gian xanh và các dịch vụ thiết yếu.

Thành phố không chỉ có tương lai, nó còn có trí nhớ

Giữa những cuộc tranh luận về xây mới và phát triển, tui cũng thường nghĩ đến những công trình đã hiện diện trong thành phố từ rất lâu. Có những tòa nhà không phải kiệt tác kiến trúc, không được xếp hạng di tích và thậm chí không được tất cả mọi người yêu thích. Nhưng chúng vẫn có thể mang một giá trị quan trọng đối với ký ức đô thị. Một nhà văn hóa từng đón nhiều thế hệ thanh thiếu niên, một rạp hát cũ, một công trình công cộng của thời kỳ sau chiến tranh, một dãy nhà đã trở thành điểm nhận diện của khu phố. Chúng là những dấu mốc giúp con người định vị bản thân trong dòng chảy của thành phố.

Kevin Lynch, trong The Image of the City (Hình ảnh của đô thị), đã nghiên cứu cách con người hình thành hình ảnh tinh thần về thành phố thông qua những tuyến đường, ranh giới, khu vực, nút giao và điểm mốc. Những thành phần ấy không chỉ giúp chúng ta định hướng mà còn góp phần tạo nên sự quen thuộc và khả năng nhận diện nơi chốn. Vì vậy, khi một công trình bị phá bỏ hoặc một không gian công cộng bị thay đổi hoàn toàn, điều mất đi đôi khi không chỉ là vật chất. Đó còn có thể là một phần của hệ thống ký ức mà nhiều thế hệ đã cùng xây dựng.

Nhưng bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên mọi thứ. Tui không nghĩ rằng tất cả những công trình cũ đều phải được bảo vệ bằng mọi giá, cũng không cho rằng xây mới luôn là một lựa chọn sai lầm. Điều quan trọng là trước khi đưa ra một quyết định không thể đảo ngược, chúng ta đã thực sự hiểu giá trị của những gì đang tồn tại hay chưa. Đã có một hồ sơ đánh giá giá trị kiến trúc, lịch sử và xã hội chưa? Đã nghiên cứu khả năng cải tạo, chuyển đổi công năng và tái sử dụng thích ứng chưa? Đã so sánh tác động môi trường và chi phí vòng đời giữa phương án giữ lại với phương án xây mới chưa?

Khuyến nghị về Cảnh quan đô thị lịch sử của UNESCO năm 2011 nhấn mạnh rằng di sản đô thị cần được nhìn nhận trong mối quan hệ với địa hình, môi trường tự nhiên, không gian mở, cấu trúc xây dựng và các thực hành văn hóa xã hội. Tư tưởng ấy rất đáng để suy ngẫm trong bối cảnh Việt Nam, nơi những lớp lịch sử kiến trúc đang tồn tại cạnh nhau nhưng không phải lúc nào cũng được đánh giá với cùng mức độ quan tâm. Một thành phố không chỉ có di sản từ thời thuộc địa, cũng không chỉ có những công trình cổ hàng trăm năm. Những công trình hiện đại do chính các thế hệ kiến trúc sư Việt Nam thiết kế trong những giai đoạn lịch sử khác nhau cũng có thể mang giá trị cần được khảo sát nghiêm túc.

Điều khiến tui tiếc nuối không phải là một thành phố thay đổi diện mạo. Mà là khi sự thay đổi ấy diễn ra nhanh hơn khả năng chúng ta hiểu được những gì mình đang đánh mất. Bởi một công trình mới có thể được xây lên trong vài năm, nhưng những lớp ký ức đô thị không thể được tái tạo chỉ bằng cách dựng lại một mặt tiền hay đặt thêm một bảng thông tin lịch sử. Di sản không chỉ nằm ở hình thức của công trình. Nó còn nằm ở mối quan hệ giữa công trình với con người, với cảnh quan và với đời sống đã diễn ra ở đó qua nhiều thế hệ.

Vậy rốt cuộc, chúng ta đang muốn xây dựng một thành phố như thế nào?

Có lẽ sau tất cả những câu chuyện về bụi mịn, nắng nóng, ngập lụt, sụt lún và bảo tồn, điều tui muốn đặt ra không phải là một bản án dành cho kiến trúc hay quy hoạch Việt Nam. Tui vẫn tin đất nước cần phát triển, cần những công trình mới, những hệ thống giao thông tốt hơn, những không gian văn hóa chất lượng hơn và những khu dân cư đáp ứng được nhu cầu của một xã hội đang thay đổi. Nhưng sự phát triển ấy cần được đánh giá bằng nhiều thước đo hơn là tốc độ xây dựng, quy mô đầu tư hay hình ảnh của những công trình sau khi hoàn thành.

Một thành phố có thể sở hữu những tòa nhà rất cao nhưng vẫn thiếu bóng mát cho người đi bộ. Có thể có những quảng trường rất rộng nhưng không đủ dễ chịu để người dân ngồi lại. Có thể xây dựng những tuyến đường hiện đại nhưng vẫn khiến người dân mất quá nhiều thời gian di chuyển mỗi ngày. Có thể sở hữu những công trình được gọi là biểu tượng nhưng lại đánh mất dần những không gian bình dị từng làm nên bản sắc của mình. Và đáng lo hơn, một thành phố có thể tiếp tục mở rộng diện tích xây dựng trong khi nền đất đang lún, hệ thống thoát nước chịu áp lực ngày càng lớn và những đợt nóng cực đoan khiến cuộc sống của người dân trở nên khó khăn hơn.

Tui nghĩ đã đến lúc cần thay đổi một phần cách đặt câu hỏi trong quá trình phát triển đô thị. Thay vì chỉ hỏi một khu đất có thể xây dựng được bao nhiêu mét vuông sàn, tại sao không hỏi nó đang đóng góp những chức năng tự nhiên nào cho khu vực? Thay vì chỉ hỏi một công trình có trở thành biểu tượng hay không, tại sao không hỏi nó sẽ phục vụ cộng đồng như thế nào trong ba mươi năm tới? Thay vì chỉ đánh giá hiệu quả của một dự án khi công trình hoàn thành, tại sao không tiếp tục theo dõi chất lượng vận hành, tác động môi trường và mức độ hài lòng của cư dân trong nhiều năm sau đó? Và thay vì xem tham vấn cộng đồng như một bước trong quy trình, liệu chúng ta có thể coi đó là cơ hội để những người trực tiếp sống cùng thành phố tham gia vào việc định hình tương lai của chính mình?

Quy hoạch tốt không thể ngăn chặn hoàn toàn mọi trận mưa cực đoan, mọi đợt nắng nóng hay mọi biến động tự nhiên. Nhưng nó có thể giúp giảm mức độ phơi nhiễm, hạn chế thiệt hại và tạo điều kiện để cộng đồng phục hồi nhanh hơn. Kiến trúc tốt cũng không thể giải quyết một mình những vấn đề của cả đô thị, nhưng nó có thể giảm bớt áp lực lên môi trường bằng cách lựa chọn đúng vị trí, đúng quy mô, đúng vật liệu và đúng phương thức vận hành. Cảnh quan không thể thay thế hệ thống hạ tầng kỹ thuật, nhưng nếu được nghiên cứu như một phần của hạ tầng, nó có thể cùng tham gia điều hòa nhiệt, quản lý nước và nâng cao chất lượng sống. Ba lĩnh vực ấy cần được nhìn nhận trong quan hệ tương hỗ, bởi không một thành phố nào có thể khỏe mạnh nếu những bộ phận tạo nên nó liên tục vận hành trái ngược nhau.

Tui vẫn thường nghĩ về những thành phố mình đã đi qua, về những con phố nhỏ ở Lyon, những công viên ở Paris, những khoảng xanh bình dị ở Metz, công viên dưới thung lũng ở Luxembourg và cả những con đường Sài Gòn mà tui đã quen thuộc từ thuở nhỏ. Điều khiến người ta yêu một thành phố không nhất thiết là công trình nổi tiếng nhất hay quảng trường lớn nhất. Đôi khi đó chỉ là một hàng cây đủ mát để đi bộ giữa trưa, một con kênh không còn bốc mùi, một công viên nơi trẻ con có thể chạy nhảy, một công trình cũ được chăm sóc tử tế hoặc một khu phố mà người dân vẫn có thể nhận ra những ký ức của mình sau nhiều năm trở lại.

Tui không muốn viết những điều này chỉ để chỉ trích. Bởi chỉ trích thì dễ, còn xây dựng một lập luận có cơ sở, hiểu được những ràng buộc của thực tế và tìm kiếm giải pháp khả thi mới là điều người làm nghề cần cố gắng. Mỗi quyết định quy hoạch đều phải đối diện với những giới hạn về nguồn lực, nhu cầu phát triển, điều kiện kỹ thuật và lợi ích của nhiều nhóm khác nhau. Không có một lời giải hoàn hảo cho tất cả. Nhưng chính vì không có lời giải hoàn hảo, quá trình nghiên cứu, phản biện và lựa chọn càng cần được thực hiện cẩn trọng. Chúng ta không thể đòi hỏi thành phố không bao giờ mắc sai lầm. Nhưng hoàn toàn có thể mong đợi rằng những sai lầm được nhận diện, được sửa chữa và không tiếp tục lặp lại chỉ vì chúng ta đã quá quen với cách làm cũ.

Vậy chuyện quái gì đang diễn ra với kiến trúc và đô thị tại Việt Nam?

Có lẽ câu trả lời không nằm trong một dự án, một công trình hay một quyết định cụ thể nào cả. Nó nằm trong cách chúng ta đang hiểu về sự phát triển. Liệu phát triển có phải là liên tục thay thế những gì đã cũ bằng những gì mới hơn? Liệu một thành phố hiện đại có nhất thiết phải được nhận diện bằng những khối bê tông lớn hơn, những tuyến đường rộng hơn và những hình ảnh tương lai hào nhoáng hơn? Hay sự hiện đại thực sự nằm ở khả năng tổ chức một môi trường sống an toàn, công bằng, có bản sắc và đủ sức thích ứng với những biến đổi mà chúng ta chưa thể dự báo hết?

Một thành phố không thể tự lên tiếng khi những khoảng xanh của nó biến mất. Một dòng sông cũng không thể tham gia cuộc họp để giải thích tại sao nó cần không gian thoát lũ. Một công trình cũ không thể tự trình bày giá trị lịch sử của mình trước quyết định phá bỏ. Và những thế hệ sẽ sống ở đây năm mươi năm nữa cũng chưa thể có mặt để nói rằng họ cần một thành phố như thế nào.

Có lẽ đó chính là trách nhiệm lớn nhất của những người đang tham gia kiến tạo đô thị hôm nay. Không chỉ xây dựng cho những người đang sống, mà còn phải biết nghĩ thay cho những người chưa kịp xuất hiện.

Vì đến cuối cùng, một thành phố đáng tự hào không phải là nơi con người đã xây dựng được bao nhiêu thứ trên mặt đất. Mà là nơi, sau tất cả những gì đã xây lên, đất vẫn đủ vững, nước vẫn có đường đi, cây vẫn có chỗ lớn và con người vẫn còn một nơi tử tế để gọi là “nhà”.


Discover more from Nhirighthere

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply

Discover more from Nhirighthere

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading