Có một điều khá thú vị trong lịch sử của loài người: chúng ta thường chỉ học được bài học sau khi đã đi qua sai lầm và những thử nghiệm rủi ro : như mọi đứa trẻ làm quen với môi trường mới biết té ngã sẽ đau, sờ vào vật quá nóng sẽ phỏng tay hoặc cần phải cẩn thận khi trèo cao. Một con đường được mở ra rồi mới biết nó gây ùn tắc giao thông. Một khu dân cư mọc lên rồi mới phát hiện thiếu trường học, thiếu công viên, thiếu tiện nghi công cộng. Một trung tâm đô thị được dồn quá nhiều chức năng rồi mới nhận ra rằng nó không còn khả năng thở.
Quy hoạch đô thị, vì thế, luôn là một quá trình học hỏi chậm rãi của thời gian. Nhưng đôi khi trọng điểm lại là: liệu chúng ta có cần phải lặp lại sai lầm của những người đi trước, hay chúng ta có thể nhìn vào lịch sử của các thành phố khác để tránh những cái bẫy đã quá rõ ràng? Sài Gòn là một thành phố phát triển rất nhanh, gần như quá nhanh so với khả năng tổ chức không gian của nó. Trong nhiều thập kỷ, phần lớn các trường đại học lớn đều nằm trong khu vực nội thành của thành phố Hồ Chí Minh từ quận 1, 3, 5 10, hay bây giờ là phường Bến Thành, Tân Định, Xuân Hòa vân vân mà tui chưa thể nhớ tên hết. Điều này tạo nên một cấu trúc khá đặc biệt: trung tâm thành phố vừa là trung tâm hành chính, thương mại, văn hóa, vừa là nơi tập trung các hạt nhân của giáo dục và tu dưỡng tri thức. Điều này mang lại năng lượng rất sống động cho đô thị. Sinh viên, quán cà phê, tiệm sách, thư viện, các cuộc trò chuyện kéo dài tới khuya, các cuộc hội họp để cùng nhau ôn tập, làm bài nhóm…, tất cả tạo nên một bầu không khí tri thức mà nhiều thành phố luôn mong muốn có được. Nhưng ở một góc nhìn khác, nó cũng tạo ra một áp lực rất lớn lên hạ tầng giao thông và quỹ đất. Và khi thành phố bắt đầu quá tải, thì câu hỏi thường xuất hiện lại là: có nên di dời các trường đại học ra khỏi trung tâm hay không?
Trong lý thuyết quy hoạch đô thị hiện đại, luôn có một ngã ba chực chờ: thành phố nên phát triển theo mô hình tập trung hay đa nhân? Mô hình đô thị tập trung (Monocentric city) nơi mọi hoạt động dồn về một trung tâm duy nhất, là một mô hình từng rất phổ biến trong các thành phố châu Âu thế kỷ XIX. Nhưng khi quy mô đô thị tăng lên, mô hình này dần bộc lộ những giới hạn rõ ràng.
Nhà nghiên cứu đô thị Jane Jacobs, trong cuốn The Death and Life of Great American Cities, từng viết: “Cities need diversity of uses, not concentration of one single function.”, tức là :”Một thành phố sống động cần sự đa dạng chức năng, chứ không phải sự dồn nén.” Từ sự phát triển bùng nổ của dân số trên thế giới từ thế kỷ 20 cùng sự nhìn nhận những mặt giới hạn của cách thức quy hoạch cũ, nhiều đô thị lớn đã chuyển sang mô hình đa nhân (polycentric city), nơi các cực chức năng khác nhau được phân bố khắp vùng đô thị: trung tâm tài chính, trung tâm văn hóa, trung tâm công nghệ, trung tâm giáo dục. Nhà quy hoạch Peter Hall từng mô tả cấu trúc này như một mạng lưới các trung tâm đô thị liên kết với nhau. Trong cấu trúc đó, các trường đại học thường trở thành những cực tri thức của thành phố.
Nếu nhìn ra thế giới, ta sẽ thấy nhiều thành phố lớn vẫn giữ những trường đại học lâu đời ngay trong trung tâm đô thị. Ở Paris, khu Latin Quarter quanh Sorbonne University đã là trung tâm học thuật của châu Âu từ thế kỷ XIII. Ở Oxford, University of Oxford gần như hòa vào cấu trúc đô thị trung cổ nơi các khuôn viên college nằm xen giữa quảng trường, nhà thờ và công viên. Ở London, các campus của University College London hay London School of Economics vẫn nằm ngay trong lõi đô thị. Tại Cambridge, Massachusetts, Harvard University từ lâu đã trở thành một phần của hệ sinh thái tri thức vùng Boston. Ngay cả Stanford University, tuy nằm ngoài lõi đô thị San Francisco, cũng đã trở thành hạt nhân của hệ sinh thái công nghệ tại Silicon Valley. Điểm chung của các ví dụ này không phải là chuyện giữ hay di dời đại học. Mà là cách thành phố hiểu đại học như một phần cấu trúc của đô thị, và dựa vào cấu trúc hiện hữu mà phát triển tiếp nối và kế thừa những giá trị của lịch
Ở góc độ kiến trúc, các trường đại học lâu đời thường mang một giá trị khác: giá trị của ký ức đô thị. Trong cuốn The Architecture of the City, có một câu của nhà lý luận kiến trúc Aldo Rossi như sau : “The city remembers through its monuments.” Những công trình như nhà thờ, quảng trường, thư viện, và cả trường đại học, chính là những cấu trúc, những biểu tượng giúp thành phố được ghi nhớ. Chúng không chỉ là không gian đơn thuần. Chúng là một phần của hình ảnh đô thị. Kevin Lynch, trong The Image of the City, cho rằng những yếu tố kiến trúc rõ ràng và có bản sắc sẽ tạo nên “imageability”, một từ diễn tả khả năng để một thành phố được ghi nhớ trong tâm trí con người thông qua hình ảnh. Nhiều campus đại học chính là những landmark, cột mốc nhận diện trong không gian như vậy.
Những ví dụ ở những thành phố như Paris, London, Oxford, Boston… như đã kể ở trên là một số trong rất nhiều những trường hợp mà các đô thị không chọn việc di dời các cơ sở giáo dục. Thay vào đó, họ mở rộng hệ thống.
Ở Paris, nhiều khoa của Sorbonne đã chuyển sang khu nghiên cứu mới tại Paris-Saclay. Ở New York, Columbia University phát triển thêm các trung tâm nghiên cứu mới trong khi vẫn giữ campus lịch sử. Điều này phản ánh một logic mà kiến trúc sư Rem Koolhaas từng nhắc đến trong Delirious New York: “The metropolis is an accumulation of different intensities.” Ta có thể dịch thành: Một đô thị không phải là một cấu trúc duy nhất. Nó là sự tích tụ của nhiều cường độ hoạt động khác nhau. Các campus đại học chính là một trong những cường độ đó.
Một góc nhìn thú vị khác đến từ cuốn Collage City của Colin Rowe và Fred Koetter. Hai tác giả cho rằng thành phố hiện đại không nên được hiểu như một hệ thống hoàn toàn đồng nhất, mà giống như một collage – một sự chồng lớp của nhiều cấu trúc và thời kỳ khác nhau.
Trong sự chắp ghép đó, những thành phần lịch sử như các trường đại học có tuổi đời nhiều thập kỷ, thậm chí là nhiều thế kỷ không cần phải biến mất. Chúng có thể tồn tại song song với những cấu trúc mới. Thành phố, vì vậy, không phải là một bản vẽ sạch sẽ. Nó giống như một bản thảo nhiều lớp, nơi mỗi thế hệ viết thêm một đoạn vào câu chuyện chung.
Khi nói về đại học, ta cũng không thể tách nó ra khỏi toàn bộ hệ thống giáo dục của thành phố. Một đô thị không chỉ có đại học. Nó có trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, thư viện, trung tâm học tập cộng đồng, viện nghiên cứu. Tất cả những cơ sở đó, tạo thành một hệ sinh thái giáo dục đô thị.
Những đứa trẻ học ở trường tiểu học hôm nay có thể trở thành sinh viên của thành phố hai mươi năm sau. Vì vậy, quy hoạch giáo dục không chỉ là quy hoạch một vài campus lớn. Nó là quy hoạch một mạng lưới không gian học tập trải dài khắp đô thị.
Quay lại câu chuyện của TP.HCM dưới góc độ này, câu hỏi có lẽ không nên chỉ là có nên di dời các trường đại học ra khỏi trung tâm hay không, mà làm thế nào để xây dựng một mạng lưới tri thức cho toàn bộ vùng đô thị. Một số campus mới có thể phát triển tại Thủ Đức, Củ Chi hay Long Phước,nơi có quỹ đất rộng cho các khu nghiên cứu quy mô.
Nhưng các cơ sở đại học trong nội đô cũng có thể được giữ lại như những hạt nhân tri thức lịch sử của thành phố. Khi đó, TP.HCM không chỉ có một trung tâm giáo dục. Nó có thể trở thành một mạng lưới các cực tri thức, trải rộng từ trung tâm đến các hạt nhân đô thị mới.
Một thành phố giống như một cơ thể sống. Nó lớn lên, mắc sai lầm, rồi dần dần tự điều chỉnh. Những quyết định quy hoạch hôm nay, dù đúng hay sai, đều sẽ trở thành bài học cho thế hệ sau. Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất của quy hoạch không phải là tránh hoàn toàn sai lầm. Mà là nhận ra sai lầm đủ sớm để sửa nó. Và đôi khi, để làm được điều đó, chúng ta chỉ cần nhìn vào lịch sử của các thành phố khác, nơi mà nhiều câu hỏi đã từng được đặt ra từ rất lâu.
Có những sai lầm mà con người phải tự mình trải qua để hiểu. Nhưng cũng có những sai lầm mà chỉ cần nhìn vào lịch sử đô thị của thế giới là đã thấy quá rõ.
Leave a comment